Hiển thị các bài đăng có nhãn Di cư môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di cư môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

Cảnh báo vấn đề giới trong di cư

Sự di cư tại các quốc gia dù an toàn hay bất ổn, dù tự nguyện hay bắt buộc thì yếu tố giới cần được xem xét để đảm bảo sự cân bằng trong phát triển kinh tế, ổn định cấu trúc xã hội và môi trường sống.

Nam giới di cư đi tới các vùng kinh tế phát triển để làm việc. Các công việc còn lại ở quê như ruộng đồng, chăm sóc người già hay trẻ em lại đặt trên vai của người phụ nữ. Có thể một số hộ gia đình lúc này sẽ thuê người làm thêm. Tuy nhiên sẽ có nhiều hộ không có đủ tiềm lực kinh tế để thuê người làm thêm. Và một hệ lụy kéo theo đó là diện tích đất bỏ hoang ngày càng tăng, năng suất nông nghiệp càng giảm. Và nó tạo nên một động lực di cư cho bộ phận nữ thanh niên để kiếm tiền nuôi gia đình.

Sự thay đổi thành phần lao động trong gia đình khi có sự di cư kéo dài và kéo theo vai trò lao động cũng có sự thay đổi. Người phụ nữ sẽ gánh vác nhiều công việc nặng nhọc hơn, và có trách nhiệm nhiều hơn với gia đình. Điều này làm giảm các cơ hội phát triển cho phụ nữ như giao lưu sinh hoạt, học tập, giải trí,...Đặc biệt hơn, sự xa cách về mặt địa lý sẽ làm nảy sinh các vấn đề liên quan tình cảm vợ chồng. Yếu tố rạn nứt gia đình sau khi có sự di cư diễn ra trong thời gian dài. Như xu hướng nam giới đi tìm người tình mới hay ngược lại. Và nó kéo theo một hệ lụy về sự tan vở gia đình, gây tâm lý nặng nề cho tuổi thơ của các con trong gia đình.

Trên các cánh đồng hiện nay chủ yếu là phụ nữ và nam giới lớn tuổi (Ảnh: Minh Đến)

Về môi trường, việc di cư của nam giới để lại phụ nữ ở quê sẽ làm tài nguyên đất, rừng không được tận dụng tối đa. Và sự hoang hóa, chất lượng đất ngày càng kém,..Điều này sẽ gây nên áp lực về bài toán an ninh lương thực, thay đổi cấu trúc môi trường sinh thái đối với địa phương, khu vực và quốc gia.

Vì thế việc xem xét yếu tối giới trong quá trình di cư của chính phủ là một bài toán rất quan trọng.



Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

Bàn luận về Di cư và thiên tai tại vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung

Theo số liệu từ hai lần Tổng điều tra dân số năm 1999 và 2009, thì số lượng người di cư tại vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung vẫn lớn nhất. Theo giai đoạn từ 1994 - 1999, tỷ lệ di cư tại đây chiếm 32% và giai đoạn 2004 - 2009 là 33%. Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao miền Trung là khu vực có số lượng người di cư lớn nhất.

Quay ngược thời gian những năm 1980, 1999 hay 2009. Có thể với mọi người thì khoảng thời gian này không có gì là đáng nhớ. Nhưng với người dân ở miền Trung thì đây là khoảng thời gian kinh hoàn nhất với họ. Với trận Đại hồng thủy 1999, hay trận siêu bão diễn ra những năm 2009. Chúng đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người dân miền trung, phá hủy cơ sở hạ tầng, vật tư sản xuất,...Và giai đoạn này đã tạo nên một làn sống di cư lớn từ miền Trung vào miền Nam.

Trận lụt lớn năm 2013 tại Hà Tỉnh (Ảnh: Minh Đến)
Vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung giống như một cái rốn bão của Việt Nam. Là đòn gánh hứng chịu những trận lụt của hai miền Bắc Nam. Sức người có hạn trước thiên nhiên. Và chọn giải pháp rời xa quê hương như là một giải pháp cuối cùng mà họ phải chọn lựa. Đặc biệt hơn, trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay khi Việt Nam là một trong ba quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất thì một điều chắc chắn rằng luồng di cư do tác động của Biến đổi khí hậu sẽ diễn ra thường xuyên và quy mô hơn. Và đây sẽ là một thách thức lớn trong thời gian tới. 

(Ảnh: Minh Đến)

Di cư của thế kỷ 21 sẽ là di cư do tác động của môi trường.

-Còn tiếp....
Minh Gia

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

HIỂU VỀ MỘT SỐ THUẬT NGỮ DI CƯ MÔI TRƯỜNG - PHẦN 2

Các dự án thủy điện lớn, hay các con đường cao tốc,...đã tạo ra một luồng di cư từ những vùng có dự án sang những vùng đất mới. Vùng đất này có thể phù hợp hay không phù hợp với cộng đồng dân cư di cư. Vì sao?
 Nếu như có sự nghiên cứu kỹ về các yếu tố văn hóa, dân tộc, hay các vấn đề liên quan tham vấn ý kiến của cộng đồng, hay sự tham gia của cộng đồng trong các lần đi nghiên cứu thì có lẽ sẽ khác biệt hơn.
Và có một vấn đề lớn khi di cư ngoài những di cư do thực hiện các dự án đó là sự tàn phá của thiên tai, sự thay đổi các yếu tố vi khí hậu. Thì việc duy trì nơi sinh sống bị tác động, hay bị thiên nhiên tàn phá sẽ không còn phù hợp. Vì đó sẽ mất an toàn, sinh kế bị ảnh hưởng và an ninh lương thực có thể bất ổn ở phạm vi vùng, khu khu vực và có thể là toàn cầu.

Vậy di cư là một giải pháp an toàn cho các vấn đề nêu trên.


Hình: Bờ biển của thôn Thái Dương Hạ Nam bị nước biển xâm lấn hơn 100 m 
Tôi xin tiếp tục giới thiệu đến các bạn một số thuật ngữ về di cư môi trường dưới đây:
Tái định cư/tái bố trí cưỡng bức (forced resttlement/relocation): Việc di dời không tự nguyện những cá nhân hoặc những nhóm người trong phạm vi tài phán của một quốc gia  ra khỏi nơi thường trú của họ như một phần chính sách của chính phủ.

Tuyến dân cư (Community line): Là các khu vực có cốt nền cao hơn dọc theo các con sông, hệ thống kênh rạch và kênh dẫn nước mà thuyền bè có thể lưu thông trên đó.

Cụm dân cư ( Community area): là khu vực nơi mà nhà ở được xây dựng gần kề nhau theo từng nhóm  trên diện tích đất có cốt nền cao hơn.

Di cư lén lút (Clandestine migration): Là việc di cư bí mật hoặc che đậy vi phạm các yêu cầu về pháp luật.

Người di cư đủ giấy tờ (documented migrant): Một người di cư nhập cảnh hợp pháp vào một quốc gia và ở lại quốc gia này phù hợp với các tiêu chuẩn tiếp nhận đối với người đó.

Minh Gia

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

Hình ảnh đẹp về di cư của động vật

Di cư là một quy luật tự nhiên cho sự phát triển cũng như tiến hóa của sinh vật. Nó là một sự cân bằng trong thế giới sống. Và mỗi loài sẽ mang những nét đặc trưng khác nhau về di cư như loài cá hồi đỏ Canada di cư theo chu kì 4 năm một lần về dòng sông Adams gần Kamloops, tỉnh bang British Columbia; hay sự di cư về phương Nam của sếu đầu đỏ tại Việt Nam hàng năm;...

Mời các bạn cùng chiêm ngưỡng cảnh đẹp của một số loài di cư:














HIỂU MỘT SỐ THUẬT NGỮ VỀ DI CƯ MÔI TRƯỜNG - PHẦN 1

Tôi xin chia sẻ với các bạn một số thuật ngữ về di cư môi trường được biên dịch từ tài liệu Di cư của tổ chức Di cư Thế giới (International Organization for Migration).

Di cư (Migration): Là sự di chuyển của một người hay nhóm người, kể cả qua một biên giới quốc tế hay trong một quốc gia. Là một sự di chuyển dân số, bao gồm bất kể loại di chuyển nào của con người, bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân; nó bao gồm di cư của người tị nạn, người lánh nạn, người di cư kinh tế và những người di chuyển vì mục đích khác, trong đó có đoàn tụ gia đình.

Người di cư môi trường (Environmental migrant): là những người hoặc nhóm người bị buộc phải rời bỏ nơi ở thường xuyên, hoặc lựa chọn ra đi trong phạm vi quốc gia hoặc ra nước ngoài, kể cả tạm thời hay lâu dài, chủ yếu do nguyên nhân Môi trường.

Người lánh nạn do môi trường (Environmental displaced persons): Những người lánh nạn trong phạm vi quốc gia cư trú thường xuyên hoặc vượt qua biên giới quốc tế với những nguyên nhân chủ yếu do môi trường/thiên nhiên ép buộc. 


(Ảnh: Minh Đến)
Sự di cư của con người chủ yếu do kinh tế. Nhưng hiện nay sự tác động từ môi trường đã trở thành một trong những tác động chính gây nên sự di cư tại một số cộng đồng dân cư trên thế giới.

Minh Gia
Sự